Bí tích Hôn Phối - Nghi thức
Sự ưng thuận kết ước giữa hai tín hữu (một nam, một nữ) đã chịu phép Thánh tẩy, tạo nên hiệp thông trọn đời.
– Phải là hai Ki-tô hữu, nếu thuộc hai Giáo Hội khác nhau thì phải xin phép.
– Đôi nam nữ hoàn toàn tự do bày tỏ sự ưng thuận kết hôn trước vị chứng hôn hợp pháp của Hội Thánh, đồng thời ý thức và hiểu biết về những gì mình cam kết. Những thiếu sót, lầm lẫn về sự tự do ưng thuận đều làm cho hôn nhân bất thành.
– Không mắc ngăn trở tiêu hôn, Giáo luật quy định 12 ngăn trở tiêu hôn (Giáo luật, Đ.1083 – 1094):
+) Ngăn trở về tuổi: Theo lẽ tự nhiên, Giáo luật qui định nam phải đủ 16 tuổi, nữ phải đủ 14 tuổi. Hội đồng Giám mục Việt Nam quyết định hạn tuổi là theo Dân Luật (nam 20 tuổi và nữ 18 tuổi).
+) Ngăn trở do bất lực: tức là không có khả năng sinh hoạt vợ chồng, dù biết trước khi kết hôn hay không biết đều kết hôn bất thành. Trường hợp son sẻ vẫn có thể kết hôn thành sự.
+) Ngăn trở do dây hôn phối trước: một trong hai người hoặc cả hai còn bị ràng buộc bởi Bí tích Hôn Phối hay hôn nhân tự nhiên thì việc kết hôn sau bất thành, trừ đặc ân Phao-lô (1Cr 7,12-16). Trường hợp một người theo đạo mà người kia vì lý do tòng giáo không chấp nhận chung sống thì được ly hôn và có quyền tái hôn. Đặc ân Phao-lô nhằm bảo vệ đức tin của người được Rửa Tội, miễn là bên không Rửa Tội đoạn tuyệt với họ.
+) Ngăn trở họ máu (Giáo luật, Đ.1091):
- Trong trực hệ, hôn phối giữa tất cả thân thuộc, dù chính thức hay tự nhiên đều là vô hiệu.
- Trong bàng hệ, hôn phối vô hiệu cho đến hết cấp thứ bốn.
Đối với họ máu, cấm kết hôn trong các đời thuộc hàng dọc, còn hàng ngang thì được kết hôn khi đã quá 4 đời (cách tính đời theo Giáo Luật là cộng tất cả các đời của hai bên lại, trừ gốc ra). Đối với họ kết hôn (có họ do kết hôn), chỉ cấm kết hôn hàng dọc (vd: không được lấy mẹ vợ hay con riêng của vợ). Ngoài ra, các loại họ thiêng liêng hay kết nghĩa … không cản trở việc kết hôn.
+) Ngăn trở do khác đạo (Giáo luật, Đ.1086).
+) Ngăn trở vì có chức thánh hoặc lời khấn trọn trong dòng tu.
+) Một số ngăn trở khác:
- Ngăn trở do mưu sát người phối ngẫu (Giáo luật, Đ.1090);
- Ngăn trở dưỡng hệ (tức là con nuôi, hôn phối bất thành ở hàng dọc hoặc ở bậc thứ hai hàng ngang (Giáo luật, Đ.1094);
- Ngăn trở về công hạnh (cấm kết hôn bậc thứ nhất hàng dọc, Giáo luật, Đ.1093);
- Ngăn trở do bị bắt cóc cưỡng hôn, đều làm cho hôn phối vô hiệu.